Khi Xúc Cảm Nắm Quyền Lực: Giải Phẫu Một Cuộc Chính Biến

0
2

Cuộc sống là hài kịch đối với những ai suy nghĩ và bi kịch đối với những ai cảm nhận. -Horace Walpole. Buổi chiều tháng Tám năm 1963, Richard Robles, tên trộm khét tiếng vừa mãn hạn ba năm tù quyết định đánh ván bài cuối cùng. Căn hộ hắn lẻn vào là của hai cô gái trẻ – Janice Wylie và Emily Hoffert. Hắn nghĩ rằng trong nhà không có ai, nhưng thật ra Janice Wylie đang có nhà. Hắn trói cô gái lại. Khi chuẩn bị rời đi, Emily đột ngột trở về và hắn cũng trói cô lại. Nhiều năm sau đó, Robles kể lại, trong khi trói Emily, Janice nói rằng cô đã nhớ rõ mặt hắn và sẽ giúp cảnh sát tìm ra hắn. Robles đã hốt hoảng và mất bình tĩnh. Hắn lấy một cái chai đập đầu hai cô gái, rồi dùng một con dao bếp đâm họ. 25 năm sau, hắn đã nói: “Lúc đó tôi đã điên lên. Đầu tôi như chực nổ tung”. Những cơn bùng nổ bạo lực như vậy là do cuộc “chính biến” của các nơron. Trung tâm rìa báo động và nắm lấy quyền kiểm soát bộ não. Sự kiểm soát ấy chỉ xảy ra trong một khoảnh khắc và phát ra những phản ứng nguy hại trước khi bộ não suy nghĩ. Vấn đề là người ta không biết được sau đó cái gì đã chi phối mình. Tất cả chúng ta đều trải qua kinh nghiệm này dưới hình thức ít bi thảm hơn. Hãy nhớ tới lần gần nhất khi mất bình tĩnh, bạn đã mắng chửi thậm tệ vợ con mà sau khi nghĩ lại, bạn thấy mình thật quá đáng. Dường như, đó là một sự “cướp đoạt” của các nơ-ron, mà nguồn gốc nằm trong hạnh nhân (amygdala), một trung tâm não rìa. Tất cả các cuộc “chính biến” của não rìa không phải lúc nào cũng nặng nề như khi chúng ta cười vỡ bụng vì một câu nói đùa hay khi cảm thấy niềm vui mãnh liệt.

Nơi trú ngụ của những đam mê

Ở con người, hạnh nhân là những cấu trúc liên kết nhau, nằm ở phần trên thân não và gần phía dưới của hệ thống rìa. Cá ngựa (hippocampe) và hạnh nhân là hai bộ phận chủ yếu của bộ não khứu giác nguyên thuỷ, từ đó phát triển lên vỏ não và vỏ não mới. Các cấu trúc rìa này chịu trách nhiệm về việc tập luyện và trí nhớ. Hạnh nhân là chuyên gia về những vấn đề xúc cảm. Việc cắt bỏ nó đưa tới sự bất lực khi đánh giá nội dung xúc cảm của các sự kiện. Tình trạng đó được gọi là “chứng mù xúc cảm”. Một người bị cắt mất hạnh nhân sẽ mất đi hứng thú đối với người khác. Anh ta có thể trò chuyện, nhưng không còn nhận ra được bạn bè hay người thân. Anh ta cũng mất đi khả năng cảm nhận những xúc cảm và sự nhạy cảm. Hạnh nhân là nơi trú ngụ của trí nhớ xúc cảm, không có nó, cuộc đời mất hết ý nghĩa. Hạnh nhân không chỉ có liên hệ với xúc cảm, nó còn chỉ huy tất cả các xúc cảm. Những con vật bị cắt hạnh nhân sẽ mất đi các xúc cảm như sợ hãi, cuồng nộ nữa hay nhu cầu đấu tranh, hợp tác. Nước mắt là biểu hiện một xúc cảm nào đó tiêu biểu ở con người, được hạnh nhân và một cấu trúc bên cạnh – những hồi não hình khuy – điều khiển. Không có hạnh nhân, sẽ không có nước mắt để lau khô, không có nỗi buồn để xoa dịu. Nhà thần kinh học người Mỹ – Joseph Ledoux – là người đầu tiên giải thích vai trò căn bản của hạnh nhân trong hoạt động xúc cảm của bộ não. Ông đã khai thác những phương pháp mới để thăm dò bản đồ của bộ não. Những khám phá của ông đã lật đổ những quan niệm thu được về hệ thõng rìa, đặt hạnh nhân lên đằng trước và phân lại các vai đã được gán cho các cấu trúc rìa khác.

Ngòi nổ nơ-ron

Sau những lúc nổi giận, chúng ta thường cảm thấy ân hận, nó giúp ta hiểu được sức mạnh của các xúc cảm đối với đời sống tinh thần. Câu hỏi đặt ra: tại sao chúng ta dễ bị rơi vào trạng thái đó? Hãy xem xét trường hợp: một cô gái phải mất hai giờ đi đường để có một ngày ở Boston với cậu bạn trai của mình. Trong bữa ăn, anh tặng cho cô một bức tranh khắc quý hiếm. Nhưng niềm vui của cô sớm tắt khi anh từ chối đề nghị xem phim ở rạp với cô vì phải đi tập bóng chày. Bị tổn thương và không thể tin được, vừa khóc cô vừa rời khỏi hiệu ăn và ném ngay bức tranh vào thùng rác. Khi kể lại chuyện này, cô thấy tiếc vì mất tác phẩm nghệ thuật này hơn là vì không đi xem phim. Chính trong những lúc ấy, khi xung đột lấn át lý trí, vai trò của hạnh nhân được biểu hiện. Tín hiệu được các giác quan truyền đi cho phép hạnh nhân sàng lọc tất cả kinh nghiệm đã trải qua của cá nhân nhằm phát triển một vấn đề có thể có. Điều này trao cho cấu trúc rìa vị trí then chốt trong đời sống tinh thần và làm cho nó trở thành một kiểu lính canh tâm lý, xem xét mỗi hoàn cảnh, mỗi tri giác theo tiêu chuẩn duy nhất: “Đây có phải là điều tôi ghét bỏ không? Điều tôi nghi ngại không? Điều gây hại cho tôi không?”. Nếu câu trả lời là “đúng” thì hạnh nhân phản ứng như một ngòi nổ nơ-ron và truyền sự báo động vào tất cả các bộ phận của não. Chẳng hạn, khi đó là một tín hiệu sợ hãi, nó liền tiết ra những hoóc-môn có nhiệm vụ làm cho cá nhân được đặt trong trạng thái chiến đấu hay chạy trốn, huy động những trung tâm chịu trách nhiệm về vận động hay kích thích hệ thống tim – mạch, các cơ và cơ quan nội tạng. Những mạch khác bắt nguồn từ hạnh nhân cũng ra lệnh tiết ra rất nhiều norepinephrine (hoóc-môn làm tăng thêm sự hoạt động trở lại của các vùng trong bộ não), làm cho các giác quan nhạy cảm hơn, và cũng đặt nó vào trạng thái báo động. Đồng thời, các hệ thống vỏ của trí nhớ được huy động để tìm kiếm mọi hiểu biết có liên quan tới tình huống và chúng lấn át tất cả các vùng khác chịu trách nhiệm về tư duy. Đây chỉ là một phần trong toàn bộ những thay đổi do hạnh nhân điều khiển. Trong trường hợp khẩn cấp, mạng lưới liên lạc nơ-ron rộng rãi của nó cho phép lãnh đạo phần lớn bộ não, kể cả tinh thần lý trí

Lính canh tâm lý

Một người bạn của tôi khi đi dạo nhìn thấy một cô gái lao mình xuống dòng nước. Không cần biết lý do, anh nhảy xuống nước và cứu sống cô gái. Cái gì đã thúc đẩy bạn tôi nhảy xuống nước? Câu trả lời nằm trong hoạt động của hạnh nhân. Trong một phát hiện, LeDoux đã chỉ ra cấu trúc não nào cho phép hạnh nhân làm tên lính canh tâm lý của bộ não. Ông đã mô tả hành trình của những tín hiệu giác quan. Tín hiệu thứ nhất từ mắt hay tai đến đồi não, rồi qua một sợi liên bào, đến hạnh nhân. Tín hiệu thứ hai được phát đi từ đồi não tới vỏ não mới, bộ não suy nghĩ. Sự chia đôi này cho phép hạnh nhân bắt đầu phản ứng trước vỏ não mới, nơi xử lý thông tin tổng hợp trước khi đạt tới tri giác đầy đủ và lựa chọn phản ứng thích hợp nhất. Những nghiên cứu của LeDoux mang tính cách mạng vì chúng là những nghiên cứu đầu tiên làm sáng rõ vai trò của hành trình nơ-ron đi tắt trong vỏ não mới. Sự tồn tại của mạch này giải thích phần lớn việc các xúc cảm đã thắng lý trí như thế nào. Quan niệm chính thống cho rằng, để phát ra những phản ứng xúc cảm của nó, hạnh nhân phải phụ thuộc vào những tín hiệu do vỏ não mới phát đi. Nhưng LeDoux đã phát hiện ra một bó nơ-ron nhỏ hơn dẫn tới vỏ não mới trực tiếp nối liền với hạnh nhân. Hạnh nhân được các giác quan cung cấp thông tin trực tiếp và phát ra phản ứng trước khi những thông tin này được vỏ não mới ghi nhận đầy đủ thông qua một con đường hẹp hơn và ngắn hơn. Bằng những nghiên cứu về sự sợ hãi ở động vật, LeDoux xem xét quan niệm đã có về các xúc cảm. Trong một thí nghiêm, ông đã phá huỷ vỏ não thính giác của những con chuột trước khi đặt chúng trước một tín hiệu âm thanh có bộ phóng điện kèm theo. Các con chuột nhanh chóng học được việc sợ cú sốc điện sau khi có tín hiệu âm thanh ấy. Rõ ràng là tín hiệu âm thanh đã mượn được đường đi nhanh chóng giữa tai và hạnh nhân qua đồi não, tránh con đường phía trên. Tóm lại, chuột học đọc một phản ứng xúc cảm mà không có sự can thiệp của vỏ não mới. Hạnh nhân tiếp nhận các tín hiệu, nhớ lại thông tin và chỉ huy hoàn toàn độc lập phản ứng sợ hãi. LeDoux phát biểu rằng: “Về mặt giải phẫu, hệ thống chi phối các xúc cảm có thể hành động độc lập với vỏ não mới. Một số phản ứng và ký ức xúc cảm có thể hình thành mà không cần chút can thiệp nào của ý thức và nhận thức.” Hạnh nhân lưu trữ cả một tổ hợp những ký ức và những phản ứng mà chúng ta lấy ra từ đó nhưng hoàn toàn không có ý thức về điều này.

Những nghiên cứu khác đã chứng tỏ rằng trong một phần nghìn giây đầu tiên của tri giác, chúng ta không những biết được đó là cái gì, mà còn biết được nó có làm chúng ta thích thú hay không. “Cái vô thức nhận thức” không chỉ bằng lòng với việc nhận ra điều gì đó, mà còn đưa ra ý kiến về nó. Những xúc cảm của chúng ta có một thế giới riêng, một thế giới có những ý tưởng riêng, hoàn toàn độc lập với ý tưởng của đầu óc lý trí. Tín hiệu nhìn trước tiên được truyền từ võng mạc tới đồi não, ở đó nó được dịch ra theo ngôn ngữ não và được đưa tới vỏ não nhìn. Ở đó nó được phân tích để có câu trả lời thích hợp. Nếu câu trả lời ấy là về xúc cảm, thì một tín hiệu sẽ đi tới hạnh nhân để kích thích các trung tâm xúc cảm. Nhưng một phần nhỏ của tín hiệu ban đầu trực tiếp chuyển từ đồi đến hạnh nhân, cho phép trả lời nhanh hơn nhưng kém chính xác hơn. Hạnh nhân, do đó, có thể phát ra câu trả lời xúc cảm trước khi trung tâm vỏ não hiểu được cái gì đang diễn ra.

Chuyên gia về trí nhớ xúc cảm

Những công trình mà LeDoux và những người khác nghiên cứu đã chỉ ra: cá ngựa có chức năng cung cấp trí nhớ cụ thể về bối cảnh của các sự kiện, mà không có nó thì không thể có ý nghĩa cảm xúc. Nếu cá ngựa nhớ lại những sự kiện thô nguyên thì hạnh nhân nhớ lại mùi vị xúc cảm gắn với những sự kiện ấy. Nếu Chúng ta tránh được tai nạn trên đường, thì cá ngựa có thể nhớ được hoàn cảnh đặc biệt của tai nạn: nơi xảy ra tai nạn, những người cùng đi hoặc nhãn hiệu của chiếc xe. Nhưng, mỗi lần như vậy, thì chính hạnh nhân phát ra sự lo ngại kịch phát. “Cá ngựa cho phép bạn nhận ra cô bạn hàng xóm của bạn. Nhưng hạnh nhân đã nhắc thêm rằng cô bạn ấy nhìn thật ác cảm”. Bộ não nhờ vào phương pháp đơn giản nhưng tài tình để đem lại sức mạnh đặc biệt cho ký ức xúc cảm: các hệ thống báo động hóa học thần kinh chuẩn bị cho cơ thể phản ứng trong những tình huống nguy hiểm đã in dấu ấn lên trí nhớ. Trong trường hợp stress, lo âu hay hưng phấn, dây thần kinh nối liền bộ não với tuyến thượng thận ra lệnh tiết ra những hoóc-môn epinephrine và norepinephrine. Chúng lan tỏa trong cơ thể, đánh thức bộ tiếp nhận dọc theo dây thần kinh phế vị; nó cho phép bộ não điều tiết sự vận hành của tim, truyền những tín hiệu do epinephrine và norepinephrine phát đi theo hướng ngược lại. Những tín hiệu này đi tới hạnh nhân, và hạnh nhân báo cho các vùng não khác nhớ lại những gì đang diễn ra. Rõ ràng sự hưng phấn của hạnh nhân có hiệu quả là in vào trí nhớ những thời điểm xúc cảm với sức mạnh khác thường. Chính vì thế, người ta nhớ rất rõ nơi hẹn hò đầu tiên với người yêu hay nhớ rõ mình đang làm gì khi biết tin một người thân qua đời. Hạnh nhân càng được kích thích, dấu ấn càng sâu sắc. Trên thực tế, bộ não có hai hệ thống nhớ, một cho những sự kiện thông thường và một cho những sự kiện đầy xúc cảm. Hệ thống thứ hai đặc trưng cho sự tiến hóa, vì nó cho phép động vật giữ được ký ức sống động về những gì nguy hiểm hay thích thú. Nhưng ký ức có xúc cảm mạnh cũng có thể là cố vấn tồi tức thời.

Những báo động nơ-ron lỗi thời

Một điểm yếu của báo động nơ-ron là thường xuyên bị lỗi thời. Hạnh nhân rà soát những kinh nghiệm và so sánh sự kiện hiện tại với những sự kiện đã qua. Nó tiến hành công việc này bằng liên tưởng: khi yếu tố then chốt của hoàn cảnh hiện có giống với yếu tố trong quá khứ, thì nó đồng nhất ngay tức khắc hai hoàn cảnh này. Điều đó giải thích sự thiếu chính xác của hệ thống – nó đi vào hành động trước khi có sự xác nhận đầy đủ. Nó ra lệnh cho chúng ta phản ứng với hoàn cảnh hiện tại theo những ý nghĩa, xúc cảm rút ra từ hoàn cảnh thường mơ hồ giống với hoàn cảnh đó. Nhưng tiếc thay, những ký ức xúc cảm gây báo động ấy thường kéo theo phản ứng hoàn toàn không thích hợp. Chẳng hạn, một nữ y tá quân đội bị tâm thần vì ám ảnh những vết thương khủng khiếp mà cô đã chữa chạy cho thương binh ở chiến trường. Cô cảm thấy ghê sợ và hốt hoảng khi mở ra cái tủ mà con mình giấu vào trong đó một tấm vải bẩn, như một phản ứng do mùi hôi thối gây ra. Sự thiếu chính xác của bộ não xúc cảm càng trầm trọng hơn do ký ức có xúc cảm mạnh từ những năm đầu đời và gắn với mối liên hệ giữa đứa trẻ và môi trường sống. Điều này đặc biệt đúng với những sự kiện gây chấn thương tinh thần, như sự trừng phạt hay cách đối xử tệ hại. Trong thời thơ ấu, cấu trúc của bộ não, nhất là cá ngựa (lưu giữ những ký ức xúc cảm trung tính) và vỏ não mới (nơi trú ngụ của tư duy lý trí) còn chưa phát triển đầy đủ. Về trí nhớ, hạnh nhân và cá ngựa hoạt động phối hợp với nhau; mỗi thứ cất giữ và độc lập tìm thấy thông tin riêng. Trong khi cá ngựa tìm kiếm và tách thông tin ra, thì hạnh nhân xác định xem nó có mang một xúc cảm nào không. Theo LeDoux, vai trò của hạnh nhân trong thời thơ ấu xác nhận nguyên lý cơ sở của phân tâm học: bản chất mối quan hệ giữa đứa trẻ với những người thân để lại dấu ấn rất sâu sắc. Sở dĩ những bài học đầu đời có sức mạnh như thế, vì chúng được in vào hạnh nhân dưới hình thức sơ đồ hướng dẫn vào lúc đời sống xúc cảm còn rất thô sơ, khi đứa trẻ chưa thể nói lên những kinh nghiệm của mình.

Những tình cảm bền vững và sướt mướt

Khoảng 3 giờ sáng, một vật to lọt qua trần nhà tôi và rơi xuống đất, kéo theo những vật để trên tầng nóc xuống. Tôi nhảy ra khỏi giường và vội chạy ra khỏi phòng, khiếp sợ vì nghĩ trần nhà sẽ rơi xuống đầu. Khi đã nấp cẩn thận, nhìn quanh, tôi nhận ra chỉ là chồng hộp ở góc tường bị đổ. Chẳng có gì rơi từ tầng nóc xuống vì làm gì có tầng nóc. Nếu đúng là trần sập thì tôi cũng không thoát. Hạnh nhân phát huy hiệu quả khi gặp tình thế nguy hiểm, trong khi vỏ não mới chưa kịp hiểu được cái gì đang xảy ra. Con đường ngắn nhất nối liền thị giác và thính giác với hạnh nhân đóng vai trò hàng đầu: nó cho phép chúng ta hành động ngay lập tức. Nhưng vòng mạch này chỉ truyền đi một phần thông điệp của các giác quan, còn phần chính thì dùng con đường của vỏ não mới. Cái mà hạnh nhân nhận được là tín hiệu thô sơ, vừa đủ để báo động. Như LeDoux nhấn mạnh: “Không cần thiết phải nhận ra một điều gì thật chính xác mới biết nó là nguy hiểm.” Con đường này rất nhanh, vì thời gian phản ứng chỉ bằng một phần nghìn giây. Ở loài chuột, hạnh nhân có thể phát ra phản ứng trong khoảng mười hai phần nghìn giây, trong khi hành trình qua vỏ não mới phải mất gấp đôi thời gian. Người ta vẫn chưa đo được thời gian phản ứng ở con người, nhưng có lẽ cũng khoảng từng đó thời gian. Trong quá trình tiến hóa, vòng mạch này có giá trị rất lớn đối với sự sống còn: nó cho phép giảm bớt vài phần nghìn giây có ý nghĩa quyết định khi đối mặt với nguy hiểm, đảm bảo sự sống cho tổ tiên chúng ta. “Nhưng đây là quá trình thô sơ; cái giành được bằng tốc độ thì lại mất đi sự chính xác”, LeDoux khẳng định. Ở con sóc, sự thiếu chính xác ấy không để lại hậu quả; nó chỉ mắc lỗi vì quá thận trọng, chạy trốn mối nguy hiểm ngay từ dấu hiệu đầu tiên hoặc vội vàng chạy tới khi có chỉ báo nhỏ nhất là có thức ăn. Nhưng đối với con người, điều đó có thể dẫn đến hậu quả trong mối quan hệ với mọi người như khi chúng ta chọn sai một vật hay một người để “chạy trốn” hoặc “vội vã lao đến” (chẳng hạn như một nữ tiếp viên nhà hàng đánh rơi khay thức ăn khi nhìn thấy người đàn bà giống người tình của chồng mình). Những sai lầm ấy là kết quả của quyết định dựa vào xúc cảm mà không phải vào suy nghĩ. LeDoux nói tới “cảm tiền nhận thức” ở những sai lầm ấy, phản ứng dựa vào các thông tin cảm giác chưa được phân tích kỹ. Đó là những thông tin rất thô sơ, giống khi người ta tìm cách đoán đúng tên của một bản nhạc từ vài nốt chơi sai. Khi hạnh nhân nhận được những thông tin đó, nó đưa ngay ra kết luận và phát đi báo động trước khi xác nhận được đầy đủ dữ kiện, thậm chí chẳng có sự xác nhận nào hết. Vì thế, không nên ngạc nhiên nếu chúng ta thiếu xét đoán khi chúng ta đang bị các xúc cảm chiếm lĩnh. Hạnh nhân gây ra phản ứng cuồng nộ hay hoảng sợ trước khi vỏ não mới phân tích được những gì đang diễn ra, vì những xúc cảm độc lập với tư duy và xảy ra trước cả khi tư duy có thể biểu hiện.

Nhạc trưởng của những xúc cảm

Khi Jessica, con gái của bạn tôi, lần đầu tiên ngủ đêm ở nhà bạn, mẹ cô bé không tỏ ra lo lắng nhưng khi điện thoại reo lúc nửa đêm, thì chị ấy hối hả chạy tới cái máy, tim đập mạnh, trong đầu hiện ra hình ảnh Jessica đang khóc. Nhưng đó chỉ là cuộc gọi nhầm. Trấn tĩnh lại, bạn tôi trả lời: “Thưa bà, bà gọi nhầm số rồi.” Hạnh nhân phát ra phản ứng mạnh mẽ và lo lắng, nhưng một phần khác của não lại điều chỉnh những phản ứng ấy. Trung tâm làm dịu bớt phản ứng của hạnh nhân nằm ở đầu kia của vòng mạch chính dẫn tới vỏ não mới, trong những thùy trán trước nằm ngay sau trán. Vỏ não trán trước can thiệp khi một người sợ hãi hay giận dữ. Vai trò của nó là kiềm chế hay điều khiển những xúc cảm ấy để đương đầu với tình thế, hay để thay đối phản ứng cho phù hợp với hoàn cảnh, như trong trường hợp mẹ của Jessica. Các vùng trán trước ngay từ đầu đã tham gia kiểm soát phản ứng của chúng ta. Những thông tin cảm giác từ đồi não truyền đi phần lớn được gửi tới vỏ não mới, nơi ghi lại những gì nhận được và đem lại cho chúng một ý nghĩa. Thông tin này và phản ứng do nó gây ra được các thùy trán trước phối hợp lại. Đây là điểm xuất phát của sự hoạch định và tổ chức những hành động xúc cảm của chúng ta. Trong vỏ não mới, vô số những vòng mạch ghi lại và phân tích những thông tin ấy, và qua thùy trán trước, chúng tổ chức ra một phản ứng. Trình tự những sự kiện cho phép phản ứng rành mạch này đã trở thành chuẩn mực, nhưng xúc cảm mạnh mẽ là một ngoại lệ. Khi một xúc cảm xuất hiện, các thùy trán trước chỉ trong vài khoảnh khắc đã ước lượng được tương quan lành dữ đối với một phản ứng và nhằm tới phản ứng nào chúng cho là tốt nhất. Phản ứng của vỏ não mới chậm hơn cơ chế khẩn cấp, vì nó phải huy động số vòng mạch nhiều hơn. Nó cũng thận trọng hơn và cân nhắc hơn, do tư duy đi trước xúc cảm. Khi chúng ta buồn sau một mất mát, khi chúng ta cảm thấy niềm vui sau chiến thắng hay bị tổn thương khi ngẫm lại những sự kiện hay cử chỉ của ai đó, thì đó chính là vỏ não mới đang hoạt động. Giống như trong trường hợp hạnh nhân, nếu người ta ngăn cản hoạt động của các thùy trán trước, thì phần chủ yếu của đời sống xúc cảm bị biến mất. Vào những năm 1940, vai trò của các thùy trán trước được biết tới khi người ta cắt những chỗ nối kết giữa các thùy trán trước và những bộ phận khác của não để chữa chứng rối loạn tinh thần để người bệnh cảm thấy sự đau đớn “nhẹ đi”. Nhưng họ không còn đời sống xúc cảm nữa. Vòng mạch chủ chốt đã bị phá huỷ. Những lúc nổi khùng có thể gồm hai động thái : sự kích thích của hạnh nhân và sự bất lực trong việc huy động các vùng vỏ não mới khi đối mặt với những tình huống xúc cảm mạnh mẽ. Vai trò nhạc trưởng của vỏ não trán trước là làm dịu bớt những tín hiệu báo động do hạnh nhân và các trung tâm rìa khác phát đi, phần nào giống với ông bố ngăn cản đứa con lấy một vật gì đó và bảo nó hãy lễ phép xin hoặc hãy chờ đợi. Mệnh lệnh chính đưa tới chỗ “dập tắt” một xúc cảm đau đớn có lẽ nằm ở thùy trán trước phía bên trái. Các nhà thần kinh học đã nghiên cứu những người bệnh bị tổn thương thùy trán và kết luận rằng thùy trán trước bên trái được dùng làm “bộ ổn nhiệt” để làm dịu những xúc cảm khó chịu. thùy trán trước bên phải là nơi trú ngụ của những xúc cảm tiêu cực như sợ hãi hay gây hấn, còn thùy trái thì kìm giữ xúc cảm này. Vì thế, những người bị tổn thương vỏ não trán trước cảm thấy lo âu và sợ hãi, trong khi những người bị tổn thương thùy phải lại “vui vẻ vô cớ”, Trong những lần khám, họ bông đùa và thoải mái như thể không cần biết tới kết quả khám. Tóm lại, thùy trán trước bên trái dường như tham dự vào một vòng mạch nơ-ron có thể trung hòa, hay ít ra cũng làm dịu bớt xúc cảm tiêu cực, trừ xúc cảm mạnh nhất. Nếu hạnh nhân thường phát ra tín hiệu báo động, thì thùy trán trước bên trái làm dịu bớt những xúc cảm nhiễu loạn. Những sự liên lạc giữa các vùng trán trước và rìa ấy đóng vai trò quyết định trong đời sống tinh thần, vượt quá sự điều tiết tỷ mỉ về các xúc cảm, và mối liên lạc ấy là cần thiết để hướng dẫn chúng ta khi đưa ra những quyết định lớn trong đời.

Sự hòa hợp giữa xúc cảm và tư duy

Sự liên lạc giữa hạnh nhân gồm cả những cấu trúc rìa kết nối với nó và vỏ não mới là trung tâm những “chiến trận” hay “hiệp ước hợp tác” giữa tư duy và xúc cảm. Sự tồn tại của vòng mạch này giải thích tại sao các xúc cảm là cần thiết cho tư duy, khi cần có quyết định khôn ngoan hay suy nghĩ sáng suốt. Chẳng hạn, ta hãy xem các xúc cảm làm tê liệt tư duy như thế nào. Các nhà nghiên cứu về khoa học thần kinh gọi khả năng nhớ được những dữ kiện cần thiết để thực hiện một nhiệm vụ hay giải quyết một vấn đề, như mua một ngôi nhà hay tham dự một kỳ thi, là “trí nhớ tích cực”. Vỏ não trán trước là vùng não chịu trách nhiệm về trí nhớ tích cực này. Nhưng sự tồn tại của vòng mạch giữa não rìa và thùy trán trước làm cho những tín hiệu do xúc cảm mạnh như lo âu, giận dữ phát ra có thể gây ra sự tê liệt nơ-ron bằng cách phá bỏ khả năng duy trì trí nhớ tích cực của thùy trán trước. Đó là lý do tại sao trong trường hợp phật ý, chúng ta thấy “không thể tập trung được”, và tại sao những rối nhiễu xúc cảm lâu bền lại làm tổn hại khả năng trí tuệ của một đứa trẻ và ngăn cản nó học tập hiệu quả. Sự biến đổi đôi khi rất tinh vi ấy không phải bao giờ cũng khám phá được bằng những trắc nghiệm trí tuệ, nhưng những cuộc thăm khám tâm lý – thần kinh cẩn thận hơn, hay sự kích động liên tục và bốc đồng của đứa trẻ, làm cho chúng ta thấy rõ như vậy. Chẳng hạn, một nghiên cứu dựa trên trắc nghiệm tâm lý – thần kinh đã phát hiện những học sinh tiểu học có IQ cao hơn mức trung bình, nhưng kết quả học tập lại thấp là do những học sinh ấy bị rối loạn ở vỏ não trán trước. Chúng thường bốc đồng, lo lắng và hiếu động vì vùng trán trước không kiểm soát được những xung động rìa. Tuy có tiềm năng trí tuệ, nhưng những đứa trẻ này dễ gặp phải nhiều vấn đề như: học hành yếu kém, nghiện rượu và phạm tội, do không làm chủ được đời sống xúc cảm của mình.

Bộ não xúc cảm là nơi điều khiển những phản ứng giận dữ cũng như đồng cảm. Những vòng mạch chịu trách nhiệm về các xúc cảm này được những thí nghiệm thời thơ ấu nhào nặn và chúng ta phải chịu trách nhiệm vì đã hoàn toàn phó mặc những kinh nghiệm ấy. Cũng cần xem xét vai trò của xúc cảm khi chúng ta có những quyết định theo “lý trí”. Trong những nghiên cứu tìm hiểu đời sống tinh thần, Antonio Damasio, nhà thần kinh học của trường Đại học Iowa đã nghiên cứu cách ứng xử của những bệnh nhân chịu ảnh hưởng bởi vòng mạch thùy trán trước xem hạnh nhân đã bị tốn thương như thế nào. Tuy IQ cũng như mọi năng lực nhận thức của họ vẫn như trước, nhưng những quyết định của họ trong việc lựa chọn nghề nghiệp và trong đời sống riêng tư bị sai lầm nghiêm trọng, và thậm chí không ngừng thoái thác khi phải có quyết định đơn giản như lựa chọn giờ hẹn gặp ai đó vì họ không tiếp cận được với những hiểu biết xúc cảm của mình nữa. Ở điểm gặp nhau giữa tư duy và xúc cảm, hạnh nhân là nơi chứa những điều thích và không thích mà chúng ta tích luỹ được trong cuộc đời. Những gì vỏ não mới phân tích, bị cắt khỏi trí nhớ xúc cảm, không thể gây ra những phản ứng xúc cảm gắn với chúng. Một sự kích thích, dù của con vật yêu thích hay một người bị ghét bỏ, không còn gây ra sự hấp dẫn hay kinh sợ nữa. Những người bệnh này đã “quên mất” hiểu biết xúc cảm ấy vì họ đã mất đi chiếc chìa khóa nằm ở hạnh nhân. Những sự kiện như vậy khiến Damasio cho rằng: trái với những quyết định theo lý trí, chúng đưa chúng ta vào phương hướng đúng mà logic thuần tuý có thể được sử dụng ở mức tốt nhất. Trong cuộc đời, chúng ta thường phải đụng đầu với hàng loạt những lựa chọn rắc rối (Phải chọn cách thức tiết kiệm nào? Lấy ai? v.v…). Nhưng hiểu biết của chúng ta về mặt xúc cảm (ký ức về một lần đầu tư sai hay đỗ vỡ) chính là cảnh báo để có những lựa chọn ngay từ đầu. Theo Damasio, bộ não xúc cảm can thiệp vào sự lập luận cũng tương tự như bộ não suy nghĩ vậy. Do đó, các xúc cảm rất quan trọng với lý trí. Trong vũ điệu của xúc cảm và tư duy, xúc cảm thường xuyên hướng dẫn lựa chọn của chúng ta, chúng hoạt động khớp với tinh thần lý trí và cho phép hoặc ngăn cấm hoạt động của lý trí. Cũng vậy, bộ não suy nghĩ đóng vai trò điều hành xúc cảm của chúng ta, trừ khi các xúc cảm thoát khỏi sự kiểm soát của chúng ta và để cho bộ não xúc cảm làm chủ. Theo ý nghĩa nào đó, chúng ta có hai bộ não, hai tinh thần và hai hình thức khác nhau của trí tuệ; trí tuệ lý trí và trí tuệ xúc cảm. Cách chúng ta chỉ dẫn cuộc sống của mình được quyết định bởi hai thứ trí tuệ ấy, trí tuệ xúc cảm cũng quan trọng như IQ. Trên thực tế, không có trí tuệ xúc cảm, thì trí tuệ lý trí không thể hoạt động sáng suốt. Sự bổ sung lẫn nhau của hệ thống rìa và vỏ não mới, của hạnh nhân và các thùy trán trước, có nghĩa là mỗi hệ thống là tác nhân riêng của đời sống tinh thần. Khi sự đối thoại được thiết lập thích hợp giữa các tác nhân ấy, trí tuệ xúc cảm được hoàn thiện và năng lực trí tuệ cũng vậy. Quan niệm truyền thống về sự đối kháng giữa lý trí và tình cảm đã bị đảo lộn: đây không phải là sự giải thoát khỏi các xúc cảm và thay thế chúng bằng lý trí, như Erasmus từng nói, mà là tìm được sự cân bằng tốt đẹp giữa hai mặt đó. Khuôn mẫu trước đây coi lý trí thoát khỏi các xúc cảm là lý tưởng. Khuôn mẫu mới bắt chúng ta phải hòa hợp giữa cái đầu và trái tim. Để đạt được điều đó, phải biết cách sử dụng trí tuệ xúc cảm.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here